Nhiếp ảnh, một thời để nhớ…

Nghệ sỹ nhiếp ảnh lão thành Trần Nguyệt Diệu là một người đam mê nhiếp ảnh, ông có nhiều sáng kiến để làm nghề trong một thời đất nước khó khăn, là người có tài chụp ảnh chân dung. Ông đã vĩnh biệt chúng ta ngày 11.09.2011. Tạp chí Nhiếp ảnh đăng bào “Nhiếp ảnh, một thời để nhớ” của cố nhiếp ảnh gia Trần Nguyệt Diệu như một lời tâm sự của tác giả với thế hệ những người làm nghề hôm nay.

8247338060_511fc80a2f_z

Suy tư – Chân dung NSNA Trần Nguyệt Diệu

Tôi không nghĩ mình là người viết nghiên cứu nhiếp ảnh, chỉ hy vọng bài viết này ghi lại ký ức hoạt động nhiếp ảnh Việt Nam một thời đầy khó khăn, nhưng có nhiều người yêu nghề tha thiết. Các nghệ sỹ nhiếp ảnh chúng ta giờ đây đang gắng sức tiếp cận cái mới, công nghệ mới để tiến kịp thời đại…

Tôi về Hà Nội với hai bàn tay trắng, kể cả tiền và nghề, không còn gì nhưng vẫn phải tìm một nghề để kiếm sống. Tôi làm nhiều việc như vẽ truyền thần, vẽ quảng cáo, học vẽ họa sĩ Lương Xuân Nhị, sơn mài học họa sĩ Nguyễn Huyến. Về sau có một người bạn đã cho mượn máy ảnh TELKA II -, từ đấy có đồng nào là đổ vào phim và làm ảnh. Đã 50 năm trôi qua, tôi vẫn luôn cảm ơn người bạn ấy, bác sĩ Trịnh Quỳ, đã giúp tôi kiếm sống, nuôi gia đình bằng nghề ảnh. Thời đó làm gì có thầy, có trường lớp dạy nghề ảnh, tôi tìm con đường tự học qua sách Pháp như các cuốn Photografie và Prisma… Tôi say mê nghiên cứu tự làm ra các dụng cụ, làm nhiều thí nghiệm để bước vào thế giới nhiếp ảnh.

Hồi đó, ở Hà Nội các cửa hiệu chỉ có ảnh đen trắng , chưa có khái niệm ảnh mầu. Mỗi hiệu ảnh phải có 3 buồng: buồng chụp, buồng tối (tráng phim và in phóng ảnh), buồng sáng (chấm sửa phim và ảnh). Chụp trong phòng  thường dùng máy gỗ nhãn hiệu Demaria la Pierre của Pháp, đa số là máy cỡ phim tối đa 13 x 18 cm, khi chụp phải trùm khăn đen, ngắm qua kính mờ, ống kính phổ biến là Berthiot 4.5; tiêu cự 210 mm của Pháp. Ấn tượng nhất đối vơi tôi là hiệu ảnh Hương Ký ở phố Hàng Trống. Cửa hàng ở tầng dưới để tiếp khách và trả hàng, trên gác 2 là buồng chụp với những dụng cụ như bục gỗ dài có nhiều bậc để chụp đông người; có đèn để chụp chân dung; một máy ảnh siêu vĩ đại, tối đa có thể chụp phim 30 x 40 cm (nhưng ít khi dung vì điều kiện kính phim và chỉ chụp theo yêu cầu của khách). Máy ảnh mang một ống kính tiêu cự 450 mm nhãn hiệu COOK portrait của Anh có 3 độ mờ nghệ thuật. Hồi đó còn phải dùng phim bằng kính ORTOCHBONATIC (kính này thường kém nhạy về màu đỏ). Về sau mới có phim miếng (gọi là phim Panchromatic là phim thanh sắc hay là phim toàn sắc). Ảnh in xong phải qua khâu ngâm vỗ ảnh, có nghĩa là làm cho sạch thuốc ảnh độ 15 phút, sau đó ngâm qua dòng nước chảy độ 30 phút, rồi mang phơi hoặc sấy khô.

Tôi đã mua một máy ảnh SEMFLEX cỡ 6 x 6 loại máy có 2 ống kính của Pháp. Còn nhớ ngày mùng Hai Tết năm 1953, nhân khai mạc Hội chợ Kemesse tôi đã chụp 85 cuộn fim 6 x 6 cho khách đến hội chợ muốn có một tấm ảnh kỷ niệm. Để chụp đêm tôi mua một đèn flash ở hiệu GAMI  Đèn flash thời đó rất hiếm, to cồng kềnh, nặng có tới trên 2 kg.

8247337972_a55aaac05a_z

Ai sinh ra “Diệu” – Ảnh: Quỳnh Như

Chiến thắng Điện Biên Phủ làm náo nức lòng dân Thủ đô, mọi người từng ngày chờ tin chiến thắng. Một kỷ niệm không bao giờ quên của những người làm ảnh chúng tôi đó là ngày 10.10.1954 Thủ đô giải phóng. Sáng hôm đó, nhiều anh em nhiếp ảnh kéo nhau ra đầu cầu Long Biên để chụp đoàn quân tiến vào tiếp quản Hà Nội. Lối đi trên cầu người đông cứng, tay cầm cờ hoa, đứng chào đón đoàn ô tô chở bộ đội tiến qua cầu. Tôi và ông bạn đồng nghiệp không chen được, đã rủ nhau về đón ở ngã năm Cửa Nam. Muốn chụp được phải có chỗ cao, một đồng nghiệp có cái thang dựa vào một thân cây to, chúng tôi thông cảm nhau và nhờ vào cái thang đó. Tôi chụp được một cuốn phim 6 x 6. Sau ngày Hà Nội được giải phóng, tôi vẫn tiếp tục làm nghầ ảnh. Giá thuê cửa hàng ở Hà Nội lúc đó rất đắt, khoảng 1 cây vàng một tháng. Phòng chụp có phông cố định, một vài phông khác vẽ phong cảnh biển, núi, Hồ Gươm… trên vải. Quần áo thay cho khách chỉ đơn giản là mấy cái sơ mi, bà chủ hiệu ghi hóa đơn và trả ảnh, thu tiền, khách yêu cầu chụp ảnh theo sở thích; phòng trang điểm thay quần áo thực ra chỉ là một ri dô nhỏ quây quanh một chiếc gương, rộng hơn 1 m2,  khách tự trang điểm lấy. Tại các hiệu ảnh thường chủ hiệu là người chụp chính, tự điều chỉnh ánh sáng, tự in phóng ảnh trừ khi đông quá mới thuê gia công. Thợ thường được thuê làm công việc chấm sửa ảnh.

Thời đó không có ảnh màu nên muốn có ảnh màu phải dung giấy tô màu, dung muội đèn hoặc mực nho hòa mấy giọt mực xanh vào miếng kính, lấy bút ẩm nhọn đầu chấm thử ra miếng giấy ẩm rồi chấm vào những vết trắng, vết đen thì cạo đi; sửa phim thì dung bút chì nhọn. Sửa ảnh khó nhất là mở mắt cho người bị chớp mắt, việc này phải thợ bậc cao mới làm được. Một người muốn học được nghề ảnh thành công phải lao tâm khổ tứ, thử thách từ việc nhỏ nhất trở đi. Thời đó chúng tôi phải cẩn thận như vậy vì lương tâm nghề nghiệp vừa là để đảm bảo uy tín và không muốn tự mình đào thải mình.

Thời đó, khi đi chụp ảnh ở nơi xa cho khách muốn lấy ảnh ngay tôi làm buồng tối lưu động, bằng hai thùng gỗ tận dụng thùng đựng đường, sữa, làm bản lề gấp lại như va-li to, mở ra có mui bằng vải đen, có hai ống để cho tay vào trong, nguồn sáng làm ảnh là 2 cục pin đại, chiếu qua một kính đỏ. Về sau cải tiến hơn làm một cái buồng bằng vải đen rộng bằng một cái màn cá nhân khi làm ảnh đóng bốn đinh và mắc như mắc màn. Loại buồng tối này rất cơ động, chúng tôi có thể mang nó đến bất cứ một góc đình hay một góc nhà hợp tác xã nào.

Phim thời đó thường dùng phim kính (miếng), không có phim 24  x 36, sau dùng phim cuộn 6 x 9 cm. Có một giai đoạn rất hiếm phim 6 x 9 chúng tôi phải dùng đến phim gọi là phim “con lợn” (vì cuộn lại to như con lợn con), cỡ 0,2 x 60m; 0,32 x 30m. Tôi đã tự chế ra một dụng cụ để cắt thành phim 6 x 9cm, nhiều anh em nhiếp ảnh đến nhờ tôi cắt hộ và trả tiền công. Nhiều lúc ngồi trong buồng tối một mình vật lộn với cái dụng cụ để cắt 60m phim rộng 32cm, nếu không có sự say sưa nghề nghiệp và sinh kế thì có lẽ không thể theo nghề đến cùng.

Sử dụng phim cũng phải có sáng kiến, bây giờ lớp trẻ nghe như chuyện cổ tích. Thường chụp bằng máy 6 x 6 nên một cuộn phim có thể chụp 16 kiểu 4 x 6 cm, 12 kiểu 6 x 6 cm, 8 kiểu 6 x 9 cm. Vậy muốn chụp phim 3 x 4 cm thì phải làm thế nào? Tôi có lót giấy đen một đầu, dán bằng băng dính, phải làm một hộp đen chứa cuộn phim chừa một khe nhỏ để kéo hết giấy lót ra ngoài, còn phim cuộn lại trong lõi chứa trong hộp đen nên không thể lô sáng. Muốn chụp phim 3 x 4 ở máy 6 x 6 thì phải che đen ở chỗ phim đi qua. Chỉ để hở khuôn hình 3 x 4, kẻ lại giấy lót, như thế khi hết cuộn phim ta mới chụp một nửa ở một bên được 20 kiểu. Tháo cuộn phim ra cho vào túi đen, cho hai tay vào cuộn phim lại, dùng băng dính đính chỗ hết phim rồi quay ngược cuộn phim lắp vào máy, như thế nó đã tự đổi vế, bên chưa chụp lại tiếp tục nhận hình ảnh mới được tổng cộng 40 kiểu. Thời gian sau có phim ORWO 24 x 36… Khi có phim 3 x 4 muốn chụp được bằng máy 6 x 6 vẫn phải dùng giấy đen của phim 6 x 6 cuộn lại khoảng 80 cm làm được một cuộn phim, lấy cữ tự làm để ước lượng rồi kẻ lại phim như đã nói ở trên, có người làm một cái che chỗ hở 3 x4, để bắt hình họ làm một cái lẫy, khi răng phim qua lẫy sẽ kêu một tiếng, đủ 8 tiếng “tắc” là 1 kiểu.

8246270329_500c5699b4_z

Trầm ngâm

Năm 1960, theo chủ trương của Nhà nước, các hiệu ảnh của chúng tôi góp tất cả các đồ nghề làm ảnh, gia nhập hợp tác xã làm chung, hưởng chung. Ai giỏi nghề được phân công làm nhiệm vụ chính. Năm 1965 Đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, các hợp tác xã nhiếp ảnh cũng phải đi sơ tán. Riêng HTX Nhiếp ảnh Phương Đông, nơi tôi làm việc, sơ tán về làng Lai Xá – Hà Tây đấy là một làng cổ, có truyền thống nghề ảnh, không có điện HTX đã tín nhiệm giao cho tôi thiết kế và cùng anh chị em xã viên dựng một buồng tối bằng ánh sáng trời có thể 4 người thợ làm ảnh được.

Năm 1970, thời gian công tác ở báo Văn nghệ tôi đã chụp hàng nghìn thước phim về sân khấu rất nhiều chân dung văn nghệ sĩ, họ hầu hết là những đồng nghiệp, bậc đàn anh, là bạn bè. Giờ đây nghĩ lại thời xa xưa, những sự buồn vui sướng khổ của nghề đã trở thành kỷ niệm. Thời đó có nhiều khó khăn nhưng có nhiều điều đáng nhớ… Bây giờ nghề ảnh có đầy đủ điều kiện về máy móc, kỹ thuật, sách vở, trường lớp… Nhiếp ảnh Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, bên cạnh máy ảnh dùng phim thì máy ảnh kỹ thuật số phát triển không ngừng, công nghệ đã làm “nhàn hóa” lao động của con người. Tuy vậy, chúng tôi hết sức tự hào về giới nhiếp ảnh chúng ta đã góp một phần công sức của mình để làm nên lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam.

Trần Nguyệt Diệu – Hà Nội, tháng 12 năm 2010
Bài này hay quá, phải copy về mới được. Hehe.

Posted on 29.10.2012, in Sưu tầm. Bookmark the permalink. Để lại bình luận.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: